Mức Độ Nguy Hiểm Của Áp Xe Ngực (Vú)

Tác giả Phương Thảo | Cập nhật 20 Tháng Chín, 2019

Áp xe ngực là tình trạng viêm (sưng, đỏ) và tích tụ mủ trong bầu ngực do vi khuẩn gây ra. Áp xe vú là một biến chứng của tắc tia sữa, nhiễm trùng mô vú, thường gặp ở phụ nữ đang cho con bú. Bệnh này có thể xảy ra ở cả những người không cho con bú, thậm chí cả nam giới, nhưng hiếm gặp hơn.

Triệu chứng áp xe ngực

Dấu hiệu lâm sàng bệnh áp xe phụ thuộc vào vị trí, giai đoạn và tiến triển của quá trình viêm. Áp xe vú thể chia thành 2 giai đoạn: viêm và giai đoạn tạo thành áp xe với những triệu chứng cụ thể như sau:

Triệu chứng bệnh giai đoạn viêm

Ở giai đoạn viêm, người bệnh thường:

  • Sốt cao, mệt mỏi, đau đầu, mất ngủ.
  • Đau nhức sâu trong tuyến, đau tăng khi khám, khi cử động cánh tay.
  • Ngực bị viêm sưng, chắc, hạch nách to và đau.
  • Vùng da phía trên ổ viêm có thể bình thường nếu ổ viêm ở sâu trong tuyến; ngược lại nếu nó ở ngay dưới da hoặc trên bề mặt của tuyến, da có thể bị bóng, đỏ, phù nề.

Triệu chứng bệnh giai đoạn tạo thành áp xe

Áp xe có thể có một hoặc nhiều ổ nằm ở một hoặc nhiều thùy khác nhau của tuyến vú. Ở giai đoạn tạo thành áp xe, các triệu chứng giai đoạn viêm đều trở nên nghiêm trọng hơn.

  • Người bệnh sốt cao, kèm rét run, rùng mình. Môi khô, khát nước, đau đầu. Da xanh, mất ngủ, cơ thể gầy yếu.
  • Ngực đau nhức nhối, đau sâu trong tuyến vú. Cơn đau gia tăng khi vận động cánh tay hoặc cho con bú.
  • Bầu ngực sưng to, vùng da trên ổ áp xe thường nóng, xung huyết đỏ hoặc phù tím, căng. Nếu ổ áp xe ở sâu thì da có thể vẫn bình thường.
  • Tĩnh mạch dưới da nổi rõ, có hiện tượng viêm bạch mạch, núm vú tụt.
  • Nếu ổ áp xe thông với ống dẫn sữa thì sữa tiết ra sẽ lẫn mủ.

Nguyên nhân áp xe vú

Áp xe ngực thường có bắt nguồn do nhiễm trùng mô vú hoặc da quá mức mà không được điều trị kịp thời. Đôi khi nó có thể tự phát triển mà người bệnh không bị nhiễm trùng trước đó.

Đối với phụ nữ đang cho con bú

Phụ nữ đang cho con bú có thể bị nhiễm trùng mô vú, được gọi là viêm tuyến sữa. Hiện tượng này thường xảy ra trong ba tháng đầu cho con bú và có thể khiến vú bị đau, đỏ, sưng kèm sốt. Nếu không được điều trị kịp thời, nhiễm trùng có thể tiến triển thành áp xe vú.

Viêm tuyến sữa có nhiều khả năng tiến triển thành áp xe vú ở phụ nữ trên 30 tuổi, người làm mẹ lần đầu và phụ nữ hút thuốc.

Đối với phụ nữ không cho con bú

Phụ nữ không cho con bú (và cả đàn ông) cũng có thể bị viêm hoặc nhiễm trùng ngực. Hiện tượng này được gọi là viêm ngực không tiết sữa.

áp xe ngực

Bệnh thường ảnh hưởng đến phụ nữ trẻ và có thể khiến núm vú và hai bên núm vú bị đau, đỏ. Viêm ngực không tiết sữa có thể phát triển thành áp xe vú nếu không được điều trị thích hợp.

Nhiễm trùng da ngực (viêm mô tế bào vú)

Nhiễm trùng da ngực có thể khiến bầu ngực đau đớn, nóng và sưng đỏ. Nó thường xảy ra sau khi phẫu thuật hoặc có các chấn thương ở vùng ngực, chẳng hạn ngực bị cắn, bị đâm hoặc mới xăm hình.

Nhiễm trùng da ngực cũng có thể xảy ra sau khi một người được xạ trị để chữa bệnh ung thư vú. Nếu viêm mô tế bào không được điều trị kịp thời, nó có thể phát triển thành áp xe ngực.

Cách điều trị và phòng ngừa áp xe vú

Áp xe ngực thường được điều trị bằng cách kết hợp uống thuốc kháng sinh để điều trị nhiễm trùng và chích rạch để dẫn mủ trong ổ áp xe ra ngoài. Một số phương pháp điều trị khác cũng có thể cần thiết.

Sử dụng kháng sinh

Những người bị áp xe vú thường được kê đơn thuốc kháng sinh để điều trị nhiễm trùng. Loại kháng sinh cụ thể sẽ thay đổi dựa trên mức độ nhiễm trùng và loại sinh vật gây nhiễm trùng.

Các loại kháng sinh chữa áp xe vú, nhiễm trùng nhẹ

Áp xe vú nhiễm trùng nhẹ có thể được điều trị bằng kháng sinh đường uống như dicloxacillin, cephalexin (Keflex), clindamycin hoặc trimethoprim-sulfamethoxazole (Bactrim).

Các loại kháng sinh chữa áp xe ngực, nhiễm trùng nặng

Áp xe ngực nhiễm trùng nặng có thể cần điều trị bằng kháng sinh loại IV như vancomycin, piperacillin-tazobactam (Zosyn) hoặc ceftriaxone (Rocephin).

Dẫn lưu mủ trong ổ áp xe ra ngoài bằng kim

Phần quan trọng nhất trong điều trị áp xe vú là dẫn lưu mủ trong ổ áp xe ra ngoài. Chỉ điều trị bằng kháng sinh là không đủ để điều trị nhiễm trùng. Một trong những cách thường được sử dụng để hút mủ ra là sử dụng kim nhỏ.

Để dẫn mủ trong ổ áp xe bằng kim, người bệnh sẽ được gây tê cục bộ. Tiếp đến, bác sĩ sẽ dùng kim chọc vào vị trí áp xe để loại bỏ mủ. Việc chọc mủ thường được tiến hành lặp lại sau 2 đến 3 ngày cho đến khi trong bầu ngực không còn dịch nữa.

Sau khi ngực không còn mủ, bác sĩ sẽ tiếp tục cho bệnh nhân dùng kháng sinh thêm 10 đến 14 ngày.

Phẫu thuật dẫn lưu áp xe

Bác sĩ sẽ yêu cầu bệnh nhân thực hiện phẫu thuật loại bỏ áp xe hoặc dẫn lưu áp xe nếu ổ áp xe của bạn lớn hơn 1cm hoặc ổ áp xe đang lớn dần và ngày càng đau đớn hơn.

Thời gian phẫu thuật thường kéo dài từ 10 đến 20 phút. Sau khi gây mê, bác sĩ sẽ cắt một đường trên da chỗ áp xe. Sau đó, bác sĩ dẫn hết mủ trong áp xe ra ngoài. Một khi mủ được loại bỏ hết, bác sĩ có thể mở vết thương (không khâu vết cắt) để tránh tình trạng nhiễm trùng.

Nếu vết loét sâu, bác sĩ sẽ đặc một băng kháng khuẩn lên vùng áp xe.

Viêm tuyến vú và viêm mô tế bào nếu không được điều trị kịp thời có thể tiến triển thành áp xe ngực gây đau đớn, khó chịu. Vì vậy, trong trường hợp bạn cảm thấy bầu ngực nóng, đỏ, đau, sưng tấy, hãy nhanh chóng đến bệnh viện để được khám và chữa bệnh. Bác sĩ sẽ thực hiện các biện pháp kiểm tra để xác định xem bạn bị viêm tuyến vú hay viêm mô tế bào. Từ đó đề xuất các phương pháp điều trị thích hợp.

[simple-author-box]

Viết một bình luận